Song hỷ là gì? ý nghĩa chữ song hỷ trong ngày cưới

Song Hỷ được bắt nguồn từ văn hóa Trung Hoa

Nước ta với sự ảnh hưởng truyền thống của nền văn hóa Trung Hoa, vì vậy trong các lễ cưới Việt Nam sẽ có chữ Song Hỷ xuất hiện trong phông cưới, tráp bê, hay cả trang phục của cô dâu chú rể. Vậy chữ Song Hỷ là gì? Có ý nghĩa như thế nào? Hãy cùng Nui Wedding tìm hiểu nhé!

Chữ Song Hỷ là gì?

Nguồn gốc của chữ hỷ chắc ai cũng biết rằng được xuất phát từ đám cưới Trung Hoa, đến nay các nghi thức lễ cưới của người Trung Hoa tại Việt Nam cũng luôn hiện diện. Chữ Song Hỷ được ghép lại bằng hai chữ Hỷ theo tiếng Trung, hai chữ hỷ ở đây được biểu thị cho niềm vui nhân đôi cho cả nhà trai và nhà gái, khi nhà trai đón thêm một nàng dau mới, nhà gái đón thêm một chàng rể mới. Ngoài ra cụm từ Song Hỷ được lấy trong cụm từ “Song Hỷ Lâm Môn”, biểu hiện niềm vui nhân đôi trước cửa nhà, thể hiện những điều tốt đẹp đến cho các cặp đôi uyên ương.

Song Hỷ được bắt nguồn từ văn hóa Trung Hoa

Nguồn gốc và ý nghĩa của chữ Song Hỷ là gì?

Về nguồn gốc của chữ Song Hỷ được xuất phát từ một câu chuyện khá dài. Chữ Song Hỷ là gì trong lễ cưới được gắn liền với một giai thoại xa xưa của lịch sử Trung Quốc, mang đầy yếu tố may mắn, cũng như trời định không chỉ về tình duyên, mà còn trong thi cử của bậc danh sĩ nổi tiếng của đời nhà Tống, là một trong “Đường Tống bát đại gia” – Vương An Thạch.

Giai thoại về Vương An Thạch liên quan đến chữ song hỷ như sau: Thuở nhỏ ông học vô cùng xuất sắc, ở tuổi 20 lên kinh đô dụ thi, có khoảng cách từ quê khoảng 200 dặm. Trên đường đi, Vương An Thạch đi qua một khu vực trù phú. Nhà Mã Viên ngoại của vùng đang kén rể hiền cho cô con gái xinh đẹp tuyệt mỹ.

Nguồn gốc của câu chữ này

Viên ngoại là người có học nên muốn chọn rể giàu chữ nghĩa làm đức lang quân cho con gái mình, chứ không phải là con nhà lắm của nhiều tiền. Khi Vương An Thạch ngang qua, cũng là lúc Viên ngoại đang mở tiệc mừng thọ.

Trong nhà được trang trí treo đèn kết hoa rực rỡ, khách khứa ra vào đông như hội. Bên ngoài cổng có treo một lồng đèn lớn, kẻ qua người lại xúm nhau xem xét, bàn tán. Vương An Thạch thấy lạ, ghé vào nhìn thì thấy trên đèn kéo quân dán một vế đối:

“Tẩu mã đăng, đăng tẩu mã, đăng tức mã đình bộ”

Dịch nghĩa: Ngựa chạy theo đèn, đèn chạy theo ngựa, đèn tắt, ngựa dừng chân.

Ban đầu, Vương An Thạch nghĩ mãi không đối được, nhưng vẫn nói bâng quơ: “Câu này dễ đối thôi”, rồi tiếp tục lên kinh dự thi. Người nhà của Mã Viên ngoại nghe được, chưa kịp vào trình với Viên ngoại thì Vương An Thạch đã lên đường lên kinh đô.

Tại trường thi, Vương An Thạch làm xong bài thi, đem nộp quyển trước tiên. Quan chủ khảo lật ra xem, tấm tắc khen nhân tài, trong phần thi vấn đáp Vương An Thạch trả lời trôi chảy, Quan chủ đã có ý lấy ông đỗ đầu. Nhà vua cho vời ông vào triều để biết mặt cũng như thử tài thêm. Thấy ở sân rồng có một lá cờ lớn, trên có thêu một con hổ, Vua ra cho ông một vế đối:

“Phi hổ kỳ, kỳ phi hổ, kỳ quyển hổ tàng thân (Hổ bay theo cờ, cờ bay theo hổ, cờ cuốn, hổ ẩn mình).

Chữ Song Hỷ có ý nghĩa như thế nào trong lễ cưới?

Vương An Thạch chợt nhớ tới vế đối trên đèn kéo quân trước nhà Mã Viên ngoại và thấy âm, ý rất hay và rất chỉnh khi đối với câu nay liền ứng khẩu đọc luôn:

Tẩu mã đăng, đăng tẩu mã, đăng tức mã đình bộ.

Vua và chủ khảo thấy Vương có tài ứng đối mau lẹ, vế đối rất chỉnh, có ý nghĩa xuất sắc nên đã chấm Vương An Thạch đậu thủ khoa kỳ thi đó. Trong khi chờ đăng tên lên bảng vàng, Vương An Thạch trở về quê nhà. Khi đi ngang qua Mã gia trang, người nhà của Mã Viên ngoại nhận ra Vương là người đã từng nói vế ra dán trên đèn kéo quân dễ đối, nên mời Vương vào nhà trình với Mã Viên ngoại.

Mã Viên ngoại yêu cầu Vương An Thạch đọc vế đối, Vương liền lấy câu của Vua ra đọc lên thành:

Tẩu mã đăng, đăng tẩu mã, đăng tức mã đình bộ; Phi hổ kỳ, kỳ phi hổ, kỳ quyển hổ tàng thân.

Mã Viên ngoại vô cùng ưng ý và mừng rỡ,  nhận thấy vế Vương An Thạch đối vô cùng hoàn chỉnh, vừ khéo léo lại còn mang ẩn ý khoe tương lai nên nói với Vương An Thạch rằng: “Vế đối dán trên đèn kéo quân là của con gái lão, nó kén chồng nên thách đối như thế, nếu ai đối được nó mới đồng ý lấy làm chồng. Để lão gọi con gái lão ra cho hai đàng giáp mặt. Sau đó đám cưới được tổ chức linh đình tại Mã gia trang”.

Biểu tượng này được bắt nguồn từ hai chữ Hỷ

Vương An Thạch cưới được vợ tài giỏi và giàu có, ở luôn tại nhà Mã Viên ngoại. Ngay liền trong ngày đó, triều đình đăng bảng, Vương An Thạch đậu Trạng nguyên, được triều đình gọi lên kinh đô nhậm chức. Thế là chàng họ Vương nhờ may mắn mà đạt được một lượt hai điều vui mừng: cưới được vợ tài giỏi giàu có và đậu Trạng nguyên. Vương An Thách bèn hứng chí ngâm nga:

Vận may đối đáp thành song hỷ, Cờ hổ, đèn quân kết vợ chồng. – Nguồn gốc của Song Hỷ là gì từ đây mà ra.

Sau đó lấy giấy viết hai chữ hỷ rất to trình lên nhạc gia và gửi về gia đình mỗi nhà một bản. Thông báo lại hai việc cực kỳ may mắn, tốt lành là đại đăng khoa (thi đỗ) và tiểu đăng khoa (lấy vợ).

Đây chính là sự ra đời của chữ Song Hỷ, tức vừa thì đỗ Trạng Nguyên, vừa lấy được được vợ đẹp.

Đặt chữ Song Hỷ ở đâu trong không gian cưới?

Mỗi đám cưới sẽ có những hình thức trang trí khác biệt, ví dụ như hình ảnh mang hình ảnh về tráp trầu cau, đôi chim bồ câu, hay tên của cô dâu chú và đám cưới mang chữ Song Hỷ vào trong lễ cưới cũng là một trong những hình thức như thế, không chỉ treo ở xe rước dâu, phông nền, bàn thờ gia tiên mà còn có thể sử dụng để trang trí ghế ngồi, cổng chào, đặc biệt là phòng tân hôn của đôi uyên ương.

Chữ Hỷ màu đỏ thường đặc gắn nhiều trong không gian cưới

Theo quan niệm xa xưa, nếu đặt chữ Song Hỷ trên đầu giường của các cặp đôi trong ngày tân hôn, cuộc sống hôn nhân về sau của các cặp đôi sẽ gặp nhiều may mắn, niềm vui và hạnh phúc trăm năm. Đối với văn hóa Trung Hoa, chữ Song Hỷ là một biểu tượng không thể thiếu trong ngày cưới

Với những thông tin, ắt hẳn rằng các bạn đã hiểu thêm từ Song Hỷ là gì, cũng như nguồn gốc ý nghĩa của từ Song Hỷ trong lễ cưới, ngoài ra nếu như các bạn đang muốn có một concept chụp ảnh Trung Hoa, đừng quên liên hệ với Nui Wedding để có được một bộ ảnh đẹp nhé!